“More than all cities I’ve ever been,
Matera smiled at me.
Even better I’ve seen,
Through the veil of poetry and melancholy.”

– Giovanni Pascoli –

Chúng tôi đến với Matera vào một chiều đầu thu, khi mặt trời đã gần tắt. Thành phố nằm sát rìa tỉnh Basilicata cằn cỗi và nghèo nàn nhất nước Ý. Matera lạc lõng giữa tuyến đường nối vùng biển Amalfi Coast xanh thăm thẳm với tỉnh Puglia phía bờ Đông.

Nhìn vẻ bề ngoài, Matera giống một Bethlehem thứ hai, giống một thành cổ Palestine bị lạc vào miền Nam nước Ý – một Palestine bước ra từ những trang sách cũ, để cuối cùng nằm lại nơi cao nguyên khô cằn, phơi mình cam chịu ánh mặt trời gắt bỏng. Chẳng thế mà năm 2004, Mel Gibson đã đến đây, tìm gặp những ngôi nhà trắng đã ngả màu nằm cheo leo trên vách đá để quay phim “Nỗi khổ hạnh của Chúa” (The passion of the Christ). Từ đó, Matera trở nên nổi tiếng trên màn ảnh.

Place Dauphine

Nhận phòng khách sạn xong, chúng tôi ngắm thật kĩ tấm bản đồ dán trên cửa, rồi bước thẳng ra đường. Thành phố nhỏ thôi nhưng do mải tha thẩn, tôi đến được khu phố cổ khi trời đã nhá nhem tối.

Matera nổi tiếng với các sassi, gọi nôm na là “đá”. Hình thành từ cách đây hơn 10 ngàn năm, Matera là một trong những thành phố lâu đời nhất thế giới vẫn còn người sống, trong chính những ngôi nhà được đào trong những hốc đá gần 9000 năm tuổi, lâu đời hơn cả Jerusalem. Thời ấy, người ta khoét lỗ vào trong đá để ở. Những ngôi nhà nửa núi đá, nửa tường xây xiêu vẹo vẫn còn đến ngày nay, tạo nên nét độc đáo của thành phố. Gọi là phố cổ nhưng khu sassi của Matera thời xưa là một khu ổ chuột. Trong những năm đầu thế kỉ XX, nơi đây là hiện thân của sự nghèo khổ, cùng cực. Người và gia súc sống chồng chéo lên nhau thành một mớ hỗn độn, không nước máy, không có hệ thống xử lý nước thải. Được xuất bản năm 1945, cuốn sách “Chúa đã dừng lại ở Eboli” của nhà văn Ý Carlo Levi đã vẽ lại cuộc sống ở Matera, nơi chìm sâu trong đói nghèo, trong bệnh tật không lối thoát. Dường như nơi này đã bị Chúa hắt hủi hoặc lãng quên.

Năm 1950, chính phủ Ý áp chế cư dân rời khỏi sassi để sang khu phố mới tiện nghi hơn. Một phần trong số họ vẫn cố bám trụ lại mảnh đất mà tổ tiên đã sống qua hàng nghìn năm. Từ khi được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới vào năm 1993, những ngôi nhà hang động đổ nát mới được phục chế làm điểm du lịch. Đến nay, phân nửa sassi lại có người ở, trở thành biểu tượng hồi sinh của một thành phố cổ.

Place Dauphine

Khu sassi của Matera không có những con đường đúng nghĩa mà gồm một mạng lưới dày đặc những hẻm nhỏ và cầu thang lên xuống, lắt léo, đan vào nhau như mê cung. Nền hẻm hoàn toàn bằng đá. Những viên đá chỉ to bằng bàn tay, trở nên trơn tuột sau bao thế kỉ bị mài duới gót chân người qua lại. Trong ánh sáng nhập nhèm, tôi vừa rón rén bước, vừa bám vào tường để khỏi ngã. Đặt tay lên đá, tôi nhận rõ từng mảng rêu mốc, từng bề mặt thô ráp, từng vết nứt ngang dọc. Matera mang trên mình đầy những vết thương đánh dấu các cuộc chiến đẫm máu giữa người Goths, Lombards, Franks từ phương Bắc; người Saracen, Byzantin từ phía Đông… Thi thoảng, những lỗ hở trên tường lại phả ra một luồng khí ẩm lành lạnh, có mùi tanh như mùi nghĩa địa. Sương đêm sà xuống tận đáy khu sassi, cộng với tiếng mèo hoang nghêu ngao lúc xa lúc gần làm tôi ớn lạnh. Bất giác, tôi thấy mình bị lạc, vừa lạc trong không gian toàn ngõ ngách mà ngách nào cũng giống hệt nhau, toàn những ngôi nhà lụp xụp xây bằng đá phủ rêu; vừa lạc trong thời gian, giữa hiện tại và quá khứ u buồn hàng nghìn năm trước.

Mò mẫm một lúc, sắp tìm lại được đường ra khỏi khu sassi tối om, tôi bỗng thoáng nghe một tiếng đàn Piano. Tiếng đàn dạo nhanh, ngọt ngào, rất trong, vọng ra từ một ô cửa sổ sáng đèn, rồi xuyên thẳng vào làn sương. Không khi u ám ban nãy bỗng tan biến. Mấy chú mèo hoang đang nghêu ngao lúc trước bỗng im bặt. Âm thanh du dương vuốt ve từng phiến đá, mang đến hơi thở mới, đánh thức nhịp sống của cả thành phố. Đèn đường bật sáng thành những đốm vàng dìu dịu, âm ấm. Không khí rờn rợn của khu phố về đêm nhường bước cho một vẻ lãng mạn và hoài cổ tôi chưa từng thấy ở một nơi nào khác.

Tản bộ thêm vài bước trên con đường vắng heo hắt, tôi cảm nhận rõ hai mảng sáng tối của Matera, giữa một thế giới cơ cực, âm u đến rợn người và một thế giới của tuổi trẻ, của sự sống. Một cũ, một mới. Sao mà hai thế giới ấy cứ vừa đối lập, vừa hài hoà đến kì lạ.

Place Dauphine

Sáng hôm sau, khi tia sáng đầu tiên chưa kịp trườn lên những mảng tường mốc meo của Matera, chúng tôi đã chạy như bay sang ngọn đồi đối diện thành phố cho kịp đón bình minh. Góc nhìn từ khoảng sân phía trước nhà thờ Santa Maria De Idris bao quát được toàn bộ khu sassi nơi tôi mò mẫm hôm qua. Làn khăn sương mỏng đặt hờ hững trên bờ vai Matera đang dần bị xé toang bởi những tia nắng lạnh ngắt. Những bức tường cổ buổi sáng tỏa một màu xám xanh, bàng bạc. Nheo mắt ngắm thành phố đang thức dậy dưới nắng sớm trong veo, sắc lẹm, tôi không nhận ra những gì mình đã thấy. Hôm qua, khi chạng vạng, Matera là một ông già khổ hạnh, oằn mình dươi gánh nặng thời gian. Đêm xuống, Matera là một chàng trai quyến rũ, ngọt ngào. Còn bây giờ, trước mắt tôi, Matera là một người đàn bà lạnh lùng, mang vẻ đẹp huyền bí đầy ma mị.

Trên những chặng đường đã qua, tôi chưa từng đứng trước nơi nào như Matera: một nơi vừa lạnh lẽo, vừa trầm ấm; vừa làm ta sợ, vừa làm ta bị mê hoặc; một nơi mà khi mường tượng lại, ta không phân biệt được mình đang ghét hay đang yêu.

Có lẽ vì vậy mà khi đến đây Giovanni Pascoli, một nhà thơ của Ý đã viết (mà tôi tạm dịch ra tiếng Anh):

“More than all cities I’ve ever been,
Matera smiled at me.
Even better I’ve seen,
Through the veil of poetry and melancholy.”

Place Dauphine

Vài điều về Matera

  • Matera có người ở liên tục từ thời thời Đồ đá cũ (Paleolithic), từ khi những chú ma mút lông lá còn tồn tại trên mặt đất, khi kỉ Băng Hà vừa mới tàn (khoảng 15 000 năm trước công nguyên). Khác với những thành phố khác hình thành từ thời Đồ Đá, tổ tiên những người dân ở đây chưa bao giờ rời đi nơi khác. Thay vào đó, Matera trở thành mảnh đất « cắm dùi », theo đúng nghĩa đen. Trong thời Đồ Đồng và Đồ Sắt, họ tạo ra các công cụ đẽo hang vào đá làm nhà, làm nhà thờ, làm nghĩa trang. Những ngôi nhà sassi cổ nhất tại Matera còn tồn tại được ước tính 9000 năm tuổi (đã đếm cẩn thận các số 0).
  • Nếu bạn không thích leo trèo lên xuống, thì đừng đến Matera. Cả thành phổ được xây, nói đúng hơn là đẽo trên sườn núi, cả khu phố cổ không có 1 con đường thẳng nào. Phần lớn đều là ngõ ngách và cầu thang xoắn vào nhau.
  • Thành phố có đến hơn 150 nhà thờ (nhà nguyện thì đúng hơn) được tạc trong lòng núi đá có niên đại từ thế kỉ thứ VIII đến thế kỉ XIV.
  • Năm 2015, phim bom tấn “Ben Hur” đã được khởi quay. Matera được chọn “đóng thế” cho Jerusalem trong các phần ngoại cảnh.
  • Lễ hội lớn nhất Matera là lễ hội rước xe hoa (Festa della Bruna), tổ chức vào ngày mùng 2 tháng 7.
  • Matera đã được chọn làm Thủ đô văn hóa châu Âu năm 2019.

Place Dauphine

Đến Matera :

  • Bằng auto : Matera rất phù hợp làm điểm dừng chân trên chuyến roadtrip khám phá miền Nam Ý, trên tuyến đường từ Napoli hay Amalfi Coast sang vùng Puglia. Matera cách Bari một tiếng chạy xe.
  • Bằng tàu hoả : Nếu bạn lên trang web bán vé tàu của Ý, trang Trenitalia, và chọn, ví dụ, “từ Roma đến Matera”, bạn sẽ không thấy kết quả nào. Matera không được nối với hệ thống đường sắt quốc gia Ý. Muốn đến đây, cách đơn giản nhất là đi từ Bari, thủ phủ tỉnh Puglia :
      • Lên trang Trenitalia (www.trenitalia.com), chọn tàu đến Bari, ví dụ từ Roma đến Bari hết khoảng 4 tiếng, giá vé khoảng từ 20 đến 30€.
      • Lên trang web công ty tàu tư nhân của tỉnh Ferrovie Appulo Lucane (FAL) (ferrovieappulolucane.it) tìm tàu từ “Bari Centrale” đến “Matera Central”. Tàu đi hết khoảng 1 tiếng 30 phút, mỗi giờ có 1 chuyến, giá vé 4.9€.
      • Từ ga tàu Matera đến khu sassi, bạn có thể đi bộ, hết gần 15 phút.
      • Chú ý : Tàu từ Bari đi Matera không khởi hành từ nhà ga chính mà từ nhà ga Bari North ngay cạnh đó. Tòa nhà này ở phía bên trái ga chính, có ghi chữ “Ferrovie Appulo Lucane”.
      • Ga tàu Matera Central không có biển báo, bạn cần cẩn thận để không bị lỡ bến.
      • Tàu từ Bari đến Matera không chạy vào ngày lễ và ngày cuối tuần. Trong trường hợp này, bạn có thể đi bus, cũng của hãng FAL (hỏi tại ga Bari hoặc xem trên trang web của hãng).
  • Bus :
  • Máy bay : Bạn có thể đi máy bay đến sân bay Bari rồi đi tàu hay bus từ Bari đến Matera.

Điểm đến lân cận:

Thuộc tỉnh Basilicate nhưng Matera lại nằm giáp biên giới tỉnh Puglia, gót giày nước Ý. Cách Matera không quá xa, bạn có thể đến :

  • Ostonie, thành phố trắng.
  • Castel del Monte tòa thành hình bát giác, di sản UNESCO từ năm 1996
  • Những ngôi nhà lùn xếp đá trulli ở Alberobello, di sản UNESCO từ năm 1996
  • Bari, thủ phủ tỉnh Puglia
  • Những vườn olive hàng trăm năm tuổi ở Puglia

Hành trình:

Tác giả ghé thăm Matera trong chuyến roadtrip đi trong 10 ngày qua 8 di sản UNESCO ở miền Nam nước Ý. Hành trình chi tiết như sau :

  • Ngày 1 và ngày 2 : Napoli
  • Ngày 3 : Pompei
  • Ngày 4 và 5 : Đường bờ biển Amalfi
  • Ngày 6 : Paestrum
  • Ngày 7 : Matera
  • Ngày 8 : Alberobello
  • Ngày 9 : Castel del Monte
  • Ngày 10 :Cung điện Caserte, quay lại Napoli



 

About the author: Huyen Chi Bui

 

Facebook-Icon